Tràng tiền 1

Cùng quan điểm trên, TS Bùi Quang Tề, nguyên Viện trưởng Viện Nuôi trồng Thủy sản 1 chia sẻ hồ Gươm có hệ sinh thái tồn tại hàng trăm năm nay và biệt lập hoàn toàn. Việc nạo vét đáy hồ là cần thiết nhưng nếu nạo vét toàn bộ bùn trong hồ sẽ phá hỏng hoàn toàn hệ sinh thái tầng đáy của hồ, không bao giờ có thể khôi phục lại.

Cần đánh giá đa dạng sinh học trước nạo vét

GS Mai Đình Yên đề xuất, trước khi tiến hành nạo vét hồ nên có nghiên cứu hiện trạng đa dạng sinh học của hồ Gươm, làm cơ sở đối chiếu, so sánh trong quá trình thực hiện. Trước đó, có nhiều nghiên cứu về đa dạng sinh học ở hồ Gươm, các nhà khoa học cũng đánh giá được đa dạng sinh học của hồ nhưng chưa có nghiên cứu nào thành tài liệu.

Ngoài ra, có thể đưa một số loài động thực vật ở hồ Gươm bảo tồn tại các viện nghiên cứu, chờ hoàn thành nạo vét thì đưa trở lại. Trong quá trình làm cần thận trọng, vừa làm vừa thẩm tra đa dạng sinh học.

GS Yên cũng chia sẻ cách đây 8 năm, Đức mang công nghệ hút bùn sang Việt Nam và thử nghiệm ở hồ Gươm. Trong quá trình nạo vét bằng công nghệ Đức, các nhà khoa học có phân tích mẫu nước, đa dạng sinh học trước và sau nạo vét thì thấy không khác nhau. Vì vậy, nếu làm được theo phương pháp của Đức thì rất tốt.

“Công nghệ Đức không hút toàn bộ đáy bùn. Họ tách lớp bùn tầng trên cùng, nơi sinh sống của các sinh vật tầng đáy, sau đó hút lớp bùn bên dưới rồi trả lại lớp bùn tầng trên cùng. Như vậy, sinh thái của hồ không bị ảnh hưởng”, GS Yên chia sẻ.

TS Bùi Quang Tề cho rằng việc nạo vét phải có kế hoạch cụ thể và có tính toán một cách khoa học, đầy đủ. Cần chia ra làm nhiều đợt để hệ sinh thái có thể phục hồi trong quá trình nạo vét.

GS.TSKH Đặng Huy Huỳnh, nguyên Viện trưởng Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật thì cho rằng quá trình nạo vét cần lưu ý đặc biệt đến các loài tảo đặc hữu của hồ Gươm bởi các loài tảo này đóng vai trò quan trọng trong hệ sinh thái của hồ, có chức năng làm sạch môi trường, làm thức ăn cho cá, tôm và duy trì hệ sinh thái.